Soạn văn 6 trang 83 Kết nối tri thức

bản Lắc-ki thực sự may mắn trích trong tác phẩm Chuyện con mèo dạy hải âu bay sẽ được giới thiệu trong chương trình Ngữ lớp 6 của bộ sách Kết nối tri .

Download.vn sẽ cung cấp tài liệu Soạn 6: Lắc-ki thực sự may mắn. Mời bạn đọc tham khảo nội dung chi tiết dưới đây.

Soạn 6:  Lắc-ki thực sự may mắn

Soạn bài Thực hành đọc: Lắc-ki thực sự may mắn

I. Tác giả

– Lu-i Xe-pun-ve-da sinh năm 1949, mất .

– Là nhà nổi tiếng của Chi-lê.

II. Tác phẩm

1. Xuất xứ

– Văn bản Lắc-ki thực sự may mắn trích trong “Chuyện con mèo dạy hải âu bay”.

– Chuyện con mèo dạy hải âu bay gồm 11 chương, kể về việc chú mèo mun Gióc- ba nuôi dưỡng Lắc-ki, một con hải âu mồ côi. Mẹ Lắc-ki bị ngộ độc váng dầu nên đã chết ngay sau khi để trứng. Tình cờ chứng kiến cái chết của hải âu mẹ, Gióc- ba đã hứa ba điều: ấp quả trứng, bảo vệ, nuôi lớn hải âu con và dạy nó bay. Bằng tình yêu thương Lắc-ki và được sự hỗ trợ trợ giúp của các bạn mèo, Gióc-ba đã hoàn thành ba lời hứa.

– Chương VI kể về hành trình Gióc-ba dạy Lắc-ki bay.

2. Bố cục

Gồm 3 phần:

  • Phần 1. Từ đầu đến “mà mèo thì không bay”: Cuộc nói chuyện của Lắc-ki với mèo Anh-xtanh.
  • Phần 2. Tiếp theo đến “con đười ươi rít lên”: Cuộc nói chuyện của Lắc-ki với con đười ươi.
  • Phần 3. Còn lại: Cuộc nói chuyện của Lắc-ki và Gióc-ba.

3. Những vấn đề cần chú ý

– Tính chất gây tò mò của nhan đề “Chuyện con mèo dạy hải âu bay”:

  • Mèo và hải âu là hai loài vật hoàn toàn có những đặc điểm khác nhau.
  • Mèo là loài vật không biết bay, nhưng ở đây lại dạy hải âu (một con chim) cách bay.

– Sự kiện chính được kể lại trong chương VI:

  • Cuộc trò chuyện của giáo sư mèo Anh-xtanh với Lắc-ki.
  • Lắc-ki đến một tiệm tạp hóa và gặp, trò chuyện đười ươi.
  • Lắc-ki buồn bã không muốn ăn sau khi trở về.
  • Gióc-ba giải thích cho Lắc-ki về mọi thứ.

– Đặc điểm của hai nhân vật:

  • Gióc-ba: tốt bụng, giàu tình yêu thương
  • Lăc-ki: hiền lành, lễ phép

– Ý nghĩa những lời giảng của Gióc-ba với Lắc-ki

  • Học cách yêu thương một người khác mình.
  • Mỗi người đều phải sống cuộc đời của chính mình.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Cuộc nói chuyện của Lắc-ki với mèo Anh-xtanh

– Đôi nét về Lắc-ki:

  • Ngoại hình: Lớn nhanh như thổi, ra dáng một con hải âu tuổi thiếu niên thon thả với lớp lông vũ màu bạc.
  • Hành động: Khi có khách tới tiệm tạp hóa, theo hướng dẫn của Đại Tá co mình nằm bất động giả vờ là những con chim nhồi bông; trầm trồ trước hàng nghìn loại vật thể chứa trong các căn phòng.

– Cuộc trò chuyện với giáo sư mèo Anh-xtanh:

  • Hoàn cảnh: Giáo sư mèo Anh-xtanh điên cuồng giở hết cuốn sách này sang cuốn sách khác để tìm ra phương pháp giúp Lắc-ki bay.
  • Lắc-ki: Tò mò vì sao hỏi giáo sư mèo Anh-xtanh: “Tạo sao con lại phải bay?
  • Anh-xtanh: Giải thích cho Lắc-ki: Bởi vì con là hải âu, mà hải âu thì phải bay. Và nếu Lắc-ki không nhận ra điều đó thì thật là khủng khiếp.
  • Lắc-ki: Mong muốn được hòa nhập với loài mèo: Nhưng con không muốn bay. Và con cũng không thích làm hải âu. Con muốn làm mèo, mà mèo thì không bay.

=> Cho thấy sự quan tâm của giáo sư mèo Anh-xtanh với Lắc-ki cũng như mong muốn được hòa nhập vào thế giới loài mèo của Lắc-ki.

2. Cuộc nói chuyện của Lắc-ki với con đười ươi

– Hoàn cảnh: Một buổi chiều Lắc-ki đi tới cửa tiệm tạp hóa.

– Đười ươi tỏ vẻ hống hách: “Tao không muốn phân chim quanh đây đâu”, gọi Lắc-ki là “con nhỏ bẩn thỉu”.

– Lắc-ki rụt rè, lễ phép hỏi lại: Tại sao ngài lại gọi cháu như thế, thưa ngài nhỉ?

– Đười ươi tiếp tục chế nhạo: “Chim chóc con nào chẳng thế. Ị bậy khắp mọi nơi…”

– Lắc-ki tìm cách thuyết phục đười ươi thay đổi suy nghĩ: “Ngài nhầm rồi. Cháu là một con mèo và rất biết giữ vệ sinh…”

– Đười ươi lại tìm cách réo rắt những ý nghĩ xấu về gia đình mèo vào đầu Lắc-ki: “Bọn khố rách áo ôm”, “Mày cũng dở hơi chẳng kém gì con mèo kia”, “Đồ chim đần độn”, “Chúng nó đợi mày béo rồi làm thịt bữa ăn ra trò”…

3. Cuộc nói chuyện của Lắc-ki và Gióc-ba

– Hoàn cảnh: Chiều hôm ấy, bọn mèo ngạc nhiên khi không thấy con hải âu xuất hiện để xơi món yêu thích. Bọn chúng cảm thấy lo lắng nên đã chạy đi tìm con. Gióc-ba tìm thấy nó nằm buồn giữa đám thú nhồi bông.

– Gióc-ba hỏi han ân cần: Con có đói không Lắc-ki?, Con thấy trong người khó chịu à?, Con có bị ốm không?

– Hỏi mà không ngẩng đầu “Má muốn con ăn để con béo tròn, ngon lành phải không?”, Rồi khi con béo, ná sẽ mời bọn chuột tới chén thịt con phải không?; vừa kể lại vừa nước mắt lưng tròng.

– Gióc-ba giải thích:

  • Khẳng định điểm đúng của con đười ươi: Con là một con hải âu.
  • Phân tích điểm sai, khẳng định tình cảm: “Nhưng chúng ta yêu con…điều đó”.
  • Giải thích tại sao cần phải học bay: “Con là chim hải âu… khác nhau”.

– Lắc-ki sợ hãi: Con sợ bay lắm, nhận được sự an ủi của Gióc-ba: “Khi con tập bay…”

=> Cho thấy tình yêu thương của Gióc-ba dành cho Lắc-ki.

Tổng kết: 

  • Nội dung: Đoạn trích “Lắc-ki thực sự may mắn” đã cho thấy tình yêu thương của gia đình mèo dành cho chú hải âu Lắc-ki.
  • Nghệ thuật: Sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa, giọng điệu tự nhiên…
Rate this post
Toán lớp 4 trang 31, 32
Toán lớp 4 trang 29

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *