Phân tích nhân vật cụ Mết hay nhất (7 mẫu)

Phân tích nhân vật cụ Mết hay nhất (7 mẫu)

tích nhân vật cụ Mết trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành gồm dàn ý chi tiết kèm theo 7 bài văn mẫu phân tích Cụ Mết hay .

Hy vọng đây là tài liêu bổ ích giúp mang lại cho các em học sinh tài liệu học tập tốt , giúp các bạn cảm nhận sâu sắc hơn về tác phẩm, thêm nhiều ý tưởng mới khi viết văn để đạt được kết quả cao trong các bài kiểm tra đặc biệt là kì thi THPT Quốc gia sắp tới. Mời quý thầy cô và các bạn cùng tham khảo và tải mẫu tại đây.

Phân tích nhân vật cụ Mết trong Rừng xà nu hay

Dàn ý chi tiết phân tích nhân vật cụ Mết

I. Mở bài

– Nguyễn Trung Thành là nhà văn gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên, với nhiều tác phẩm đặc sắc.

– Rừng xà nu là khúc sử thi văn xuôi hiện đại tái hiện vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng của núi rừng, con người và truyền thống văn hóa Tây Nguyên.

– Một trong những nhân vật mang đậm chất sử thi là cụ Mết.

II. Thân bài

– Ngoại hình:

+ Quắc thước: “râu dài đến ngực mà vẫn đen bóng”, “vết sẹo ở má phải láng bóng”, cụ là người đã trải qua nhiều thăng trầm

+ “bàn tay nặng trịch như kìm sắt”, “ngực căng như một cây xà nu lớn”, …mang dáng dấp của anh hùng trong sử thi Tây Nguyên.

– Cụ là người quắc thước và nghiêm nghị:

+ Giọng nói “ồ ồ dội vang trong lồng ngực ”: vừa thể hiện sức mạnh thể chất vừa thể hiện sức mạnh quyền uy của người chỉ huy.

+ Mỗi câu nói như một chân lí “không có gì mạnh bằng cây xà nu trên đất ta”, “cán bộ là Đảng, Đản còn, núi nước này còn”, “chúng nó cầm súng mình phải cầm giáo”.

– Cụ Mết có tình yêu quê hương sâu sắc

+ Dẫn Tnú ra máng nước đầu làng gội rửa, để nhắc nhở những ai đi xa nhớ về ngườn cội, quê hương.

+ Tự hào về tất cả mọi thứ trên quê hương: “Không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”, “Gạo người Strá mình làm ra ngon rừng núi này”.

+ Vì muốn bảo vệ quê hương nên luôn tìm hướng đi đúng đắn cho buôn làng: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”.

– Là người giàu tình yêu tình yêu thương:

+ Hết lòng thương yêu và tin tưởng Tnú – chàng trai trẻ có số phận bi tráng: nồng hậu đón Tnú trở về, xót thương khi nhìn những ngón tay còn hai đốt của Tnú, luôn động viên anh: “Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được”

+ Xúc động khi kể lại cho dân làng nghe câu chuyện của Tnú, cụ “vụng về trở bàn tay lau một giọt nước mắt”

+ Nhận được muối, dù ít ỏi cụ vẫn chia đều cho mọi người trong buôn làng.

– Cụ Mết là người biết nhìn xa trông rộng: dự trữ lương thực đủ ăn để đánh giặc, biết rõ được sức mạnh chưa đủ khi chưa có vũ khí nên không liều mạng xông ra cứu Tnú,…

– Cụ chính là người chỉ đường dẫn lối. Là chỗ dựa tinh thần cho dân làng.

– Nhận xét: Cụ Mết là biểu tượng thế hệ anh hùng đi trước, hiện thân cho truyền thống thiêng liêng, hội tụ vẻ đẹp con người Tây Nguyên, mang dáng vẻ của người anh hùng với sức mạnh phi thường trong sử thi.

III. Kết bài

– Nêu cảm nhận của bản thân về hình ảnh cụ Mết.

– Khái quát nghệ thuật: với kết cấu truyện lồng trong truyện, đầu cuối tương ứng đặc sắc, ngôn ngữ đậm chất sử thi, nhưng cũng mộc mạc giản dị, xây dựng hình tượng, …

– Thông qua câu chuyện của dân làng Xô Man, tác giả đã đặt ra vấn đề có ý nghĩ lớn lao với dân tộc: Để cho sự sống của đất nước và nhân mãi trường tồn thì không có cách nào hơn là đoàn kết đứng lên cầm vũ khí chống lại kẻ thù.

Phân tích nhân vật cụ Mết – Mẫu 1

Một trong những nhân vật mà góp phần thể hiện chủ đề tác phẩm và làm đậm thêm chất sử thi cho truyện ngắn ‘Rừng xà nu’ của Nguyễn Trung Thành chính là nhân vật cụ Mết – kiểu nhân vật già làng tộc trưởng dường như vốn rất quen thuộc trong các thiên anh hùng ca Tây Nguyên, và nhân vật cụ Mết chính là biểu tượng cho sức mạnh truyền thống, tinh thần bất khuất kiên cường của nhân dân Tây Nguyên, là chỗ dựa tinh thần

Ta có thể nhận thấy rằng ngay khi vừa xuất hiện, ấn tượng về một vị già làng mạnh mẽ đã thể hiện trong chi tiết “một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy Tnú như một cái kìm sắt”. Tác giả Nguyễn Trung Thành như đã vẽ những nét vẽ ngoại hình về một cụ già “quắc thước … mắt sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn láng bóng … ngực căng như một cây xà nu lớn” . Và những câu văn như đã khắc họa hình ảnh của một già làng sắc sảo, kiến nghị, vững chãi qua đó nói lên được vẻ tiềm tàng sức mạnh thể chất, tràn trề uy lực tinh thần, có sức lôi cuốn, thuyết phục mạnh mẽ với cộng đồng.

Và dường như ở hầu như nét miêu tả nào ở cụ Mết cũng có tính cá biệt. Qua chính những cách nói như ra lệnh, ngôn ngữ giản dị mà dứt khoát thể hiện sự quyết đoán của những người đứng đầu. Hay cả những việc cụ không bao giờ khen, khi vừa ý cũng chỉ nói “được” là tính cách của những người luôn yêu cầu cao ở người khác cũng như ở chính mình. Có thể thấy đặc biệt ấn tượng ở cụ Mết mà người đọc có thể nhận thấy đó chính là giọng nói, đó là “tiếng nói ồ ồ đội vàng trong lồng ngực”, tiếng nói ấy hoặc “vang” khi hô hào dân làng Xô Man nổi dậy đánh giặc hoặc “trầm và nặng” như tiếng vọng của núi rừng. Và đó chính như lời phán truyền của quá khứ khi kể chuyện về cuộc đời Tnú, về lịch sử oanh liệt của làng, tiếng nói ấy tha thiết trang nghiêm khi nhắc nhở dân làng và con cháu: “Nghe rõ chưa các con? Rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy!…”

Hình ảnh cụ Mết được hiện lên là người có tình yêu sâu sắc, sự gắn bó máu thịt với quê hương

Khi mag nhân vật Tnú đi xa về, cụ đã dẫn anh ra máng nước đầu làng dội rửa, bằng việc ấy, cụ như muốn nhắc nhở người con xa quê. Và cho dù có đi tới phương trời nào cũng phải ghi nhớ và trân trọng nguồn cội thiêng liêng của quê hương. Nói chuyện với Tnú thì dường như ở cụ luôn tự hào khẳng định bằng cách nói tuyệt đối, cũng có thể có phần hơi cực đoan, thái quá, cách nói quen thuộc của lòng yêu: “Không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta” và câu “Gạo người Strá mình làm ra ngon nhất rừng núi này”. Dường như đối với cụ Mết, quê hương hiện lên thật đẹp đẽ và lớn lao, thiêng liêng và thân thuộc. Đó chính là hình ảnh dòng nước trong nguồn, hạt gạo trên nương cho tới những cánh rừng xà nu bạt ngàn, mạnh mẽ và cường tráng biết bao nhiêu

Và ta như thấy ở cụ Mết luôn luôn tâm niệm và dặn dò con cháu rằng “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Như vậy, người đọc cũng có thể thấy tấm lòng trung thành với Đảng và cách mạng của cụ Mết cũng xuất phát từ tình yêu sâu sắc với rừng núi quê hương. Và như chính như bên trong con người có vẻ ngoài quắc thước, nghiêm nghị ấy lại là một trái tim trĩu nặng tình thương yêu đối với dân làng

Nhất là khi Tnú trở về thăm làng sau ba năm đi lực lượng, cụ Mết đã đón anh bằng tấm lòng yêu thương nồng hậu của một người cha, và cụ Mết đã quyết định anh ở nhà cụ trong đêm về làng, động viên khích lệ anh rằng “Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được”. Chính chi tiết này ta như có thể thấy được cụ Mết dường như đã đem đến cho Tnú- một người con bất hạnh của dân làng Xô Man thấy được một cảm giác ấm áp của gia đình khi trở về làng. Và khi ngồi ăn cơm với Tnú, nhìn hai bàn tay cụt đốt của anh, “ông cụ đặt chén cơm xuống giận dữ”, đó chính là một trong những biểu hiện sâu sắc nhất của nỗi đau đớn xót thương cho Tnú. Và dường như những nỗi căm giận kẻ thù tàn bạo không thể nguôi ngoai. Và việc khi kể cho dân làng nghe về cái chết của vợ con Tnú,mặc dù câu chuyện đã xảy ra tới ba năm nhưng dường như ở cụ cũng không kìm nổi sự tiếc thương vô hạn và đau đớn và xúc động, cụ Mết thật “vụng về trở bàn tay lau một giọt nước mắt” như muốn che giấu lòng mình vậy. Nhưng người đọc có thể cảm nhận được chính cử chỉ vụng về ấy đã bộc lộ trái tim nhân hậu và tình yêu sâu sắc của cụ với dân làng.

Và khi nhận được gói muối quý giá từ những người đi xa về cụ Mết đã luôn luôn chia đều cho các bếp trong làng, để dành cho những người đau ốm. Đó chính là vị mặn của những hạt muối nhỏ bé cũng là vị mặn đậm đà của tình yêu thương trong trái tim người già làng.

Có thể thấy được trong vai trò của một già làng thời đánh Mỹ, cụ Mết kiên cường, vững chãi như một cây xà nu lớn. Và hình ảnh cụ Mết chính là chỗ dựa tin cậy của dân làng, có sức lôi cuốn mạnh mẽ với dân làng. Và hình ảnh cụ Mết lại luôn luôn giữ cho mình tình yêu, niềm tin và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với cách mạng. Câu nói nổi tiếng và chất chứa tình cảm của cụ với Đảng là “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”

Có thể nhận thấy ở trong làng, cụ cũng là người đứng đầu biết nhìn xa trông rộng, biết lo cho cuộc chiến đấu chung của dân làng. Cụ cũng như đã ân cần và động viên dân làng lo dự trữ lương thực để có thể đủ ăn tới ba năm bởi “đánh Mỹ phải đánh dài”. Qua nhân vật cụ Mết dường như cũng đã thể hiện vai trò của một già làng tỉnh táo, sáng suốt để có thể kiềm chế nổi những đau đớn và căm hờn ngay trong giây phút khốc liệt nhất,và quan trọng hơn nữa là đã tìm ra con đường đúng đắn nhất lãnh đạo dân làng nổi dậy cầm vũ khí tiêu diệt kẻ thù. Có thể thấy được trước cái chết của vợ con Tnú, trước cảnh Tnú bị bắt trói, tra tấn dã man kai thì cụ Mết đau đớn nhưng tỉnh táo, không để tình cảm chi phối. Cụ Mết dường như cũng đã nhắc đi nhắc lại: “Tao cũng chỉ có hai bàn tay không. Tao quay vào rừng… tìm bọn thanh niên… tìm giáo mác”. Có thể thấy chính lý trí sáng suốt cần thiết của một già làng, một người đứng đầu, và cụ còn là người chịu trách nhiệm với sự sống còn của cả cộng đồng đã giúp cụ Mết cùng với dân làng chiến đấu và chiến thắng quân giặc tàn bạo.

Cùng với những sự trí tuệ sắc sảo của một người đứng đầu, cụ Mết không chỉ nhắc tới sự kiện đau thương và chiến thắng oanh liệt của dân làng trong đêm ấy như một kỷ niệm. Ở cụ đã khái quát, dường như cũng đã đúc kết và khắc sâu quy luật tất yếu của cuộc chiến tranh cách mạng là“Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Có lẽ chân lý ấy đã được rút ra từ chính những trang sử đầy máu và nước mắt của làng Xô Man, thông qua giọng kể “trầm và nặng” của già làng là cụ Mết. Chắc chắn nó sẽ trở thành lời phán truyền thiêng liêng của lịch sử cho các thế hệ con cháu.

Cụ Mết chính là một hình tượng nhân vật đẹp gợi nhớ hình ảnh những già làng, tộc trưởng trong sử thi, thần thoại, truyền thuyết, và dường như có cả trong những bản trường ca Tây Nguyên xưa. Sử dụng bút pháp miêu tả đặc sắc của nhà văn Nguyễn Trung Thành đã cùng sự chi phối của khuynh hướng sử thi trong nền cảm hứng chung của văn học giai đoạn 1945 – 1975 dường như ta như cũng đã khiến chó nhân vật không chỉ hiện lên với những phẩm chất ưu tú của cộng đồng mà còn là nhân vật có cá tính riêng đặc sắc. Và cũng chỉ qua việc thông qua nhân vật cụ Mết, Nguyễn Trung Thành đã ca ngợi lòng yêu nước, ca ngợi những người anh hùng và cả tinh thần chiến đấu kiên cường bất khuất của nhân dân Tây Nguyên trong thời đánh Mỹ. Và lớn hơn đó cũng đồng thời khái quát chân lý lịch sử lớn lao của thời đại, lý giải sâu sắc cũng như rất thuyết phục con đường giải phóng nhân dân, đất nước.

Phân tích nhân vật cụ Mết – Mẫu 2

Mỗi mảnh đất trong cuộc kháng chiến của dân tộc đều gắn liền với hình ảnh riêng của mỗi nhà văn. Nếu như nhà văn Nguyễn Thi gắn liền với mảnh đất miền Nam ruột thịt, thì Tây Nguyên là nơi ghi dấu nhiều kỉ niệm, nhiều hình ảnh đẹp trong ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trung Thành. Tiêu biểu cho các sáng tác đó là tác phẩm Rừng xà nu(1965) được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, tác phẩm là sự ghi dấu về hiện thực của nhân dân đồng bào Tây Nguyên anh dũng chiến đấu chống đế quốc Mĩ, cuộc chiến không chỉ là của riêng thế hệ trẻ dân làng Xô-man Tnú, Rít, Mai, bé Heng… Mà còn là sự lãnh đạo của người đứng đầu làng là Cụ Mết. Một hình tượng của cây xà nu đại thụ – một biểu tượng chung cho sức mạnh và sự bền bỉ trong chiến tranh và là biểu tượng linh hồn riêng của làng Xô-man.

Cụ Mết không xuất hiện ở ngay đầu tác phẩm nhưng sự xuất hiện của cụ qua ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trung Thành cũng thực sự để lại những ấn tượng mạnh mẽ trong lòng bạn đọc. “Một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy vai anh như một kìm sắt… Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn láng bóng!.. ngực căng như một cây xà nu lớn…” Nhà văn đã tập chung miêu tả ngoại hình từ ngay những dòng văn đầu tiên nói về cụ. Qua đó cụ Mết hiện lên với một thân hình khỏe mạnh, hùng tráng; bộ râu dài tới ngực mà vẫn đen bóng cho thấy cụ mang dáng dấp đúng của một người già làng; đôi mắt sáng xếch ngược hiện lên một con người có trí tuệ tinh nhanh và uy cường. Với chút miêu tả đó nhà văn cũng đã phần nào chứng tỏ được Cụ Mết là sức mạnh của núi rừng Tây Nguyên. Nhưng không chỉ dừng lại đó nhà văn còn miêu tả về giọng nói của cụ Mết với một giọng nói “ồ ồ, dội vang trong lồng ngực” không chỉ minh chứng cho sức ngân vang của cụ mà còn khẳng định sự lãnh đạo và chỉ huy được đám đông làng Xô-man. Cách nói của cụ như ra lệnh; không bao giờ cụ khen tốt hay giỏi nếu vừa ý thì nói “Được!”. Mệnh lệnh chiến đấu phát ra chắc nịch đó được thể hiện trong đêm Tnú bị giặc đốt mười ngón tay, “Chém! Chém hết!” của cụ như tiếng sấm bên tai không chỉ thúc giục tinh thần trong mỗi người xông lên cứu Tnú, mà còn phần nào đã khiến cho bọn thằng Dục bị đòn bất ngờ và có phần khiếp sợ. Nhưng giọng nói cụ Mết cũng thật đầm ấm, trang nghiêm, linh thiêng như một huyền thoại – đó là khi cụ Mết kể về câu chuyện của Tnú cho dân làng Xô-man. Mọi người vây quanh đống lửa trong không gian của nhà ưng và nghe cụ kể về Tnú với “tiếng nói rất trầm”. Qua đó, bạn đọc có thể thấy cụ Mết hiện thân cho truyền thống thiêng liêng, biểu tượng cho sức mạnh dân tộc của các đồng bào vùng Tây Nguyên, là niềm tự hào của cộng đồng dân làng Xô-Man. Giọng nói của cụ như là tiếng của cội nguồn,của núi rừng, của lịch sử, lời nói của cụ là sấm truyền sử thi, đó còn như những phán quyết của lịch sử, là sức mạnh hào hùng của thời đại.

Trong mối quan hệ với Đảng và Cách mạng, cụ Mết càng là sợi dây gắn kết dân làng với lí tưởng, chỉ dẫn của Đảng, bởi cụ luôn có niềm tin sâu sắc vào những đường lối của Đảng, tinh thần này càng được giáo dục một cách nghiêm khắc cho đám đông làng Xô-man để khắc cốt ghi tâm. Đã có lần cụ từng khẳng định niềm tin ấy: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn.” Nhưng quan trọng hơn là cụ Mết đã đưa chân lí đó vào thực tiễn của cuộc đấu tranh chống bọn đế quốc Mĩ bằng những chân lí thật giản dị: “Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tao chết rồi, bay còn sống kể lại cho con cháu: Chúng nó cầm súng, mình phải cầm giáo!…” Nhờ vào ý thức luôn giáo dục truyền thống vẻ vang của làng cho các thế hệ tiếp cận đó mà dân làng Xô-man giữ được truyền thống kiên cường bất khuất, khả năng giữ bí mật tuyệt đối, để làng Xô-man mãi tự hào khi trong suốt 5 năm kháng chiến chưa có cán bộ nào bị giặc bắt hay bị giết trong cánh rừng xà nu này. Nhưng để hiểu vì sao cụ Mết lại có niềm tin sâu sắc vào Đảng thì đó chính là nhờ vào sự am hiểu tường tận và giành giọt đường lối kháng chiến. Không chỉ là phương châm kháng chiến lấy bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực phản cách mạng (chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo). Mà đặc biệt hơn cụ còn am hiểu về cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc: “đánh thằng MĨ phải đánh lâu dài”. Ngoài ra, qua ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trung Thành ta còn thấy được tính kỉ luật cao trong con người cụ Mết qua cách chỉ huy dân làng khi trốn vào rừng lánh giặc chờ đợi thời cơ tiến hành khởi nghĩa: “Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dụ, một cây rựa. ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông”. Chính vì thế, cụ Mết được nhà văn miêu tả với hình tượng một cây xà nu đại thụ trong rừng xà nu, luôn là bóng lớn cho dân làng Xô-man chống bọn đế quốc Mĩ, góp phần vào sự thành công của cuộc cách mạng trong cả nước.

Khi nói đến nhân vật cụ Mết trong tác phẩm Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành, không thể không nói đến phẩm chất cao quý của cụ đối với Tnú, đối với dân làng Xô-man. Qua ngòi bút của nhà văn, cụ Mết hiện lên là một con người có lòng yêu dân làng, yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. Đối với Tnú, cụ luôn lấy anh làm tấm gương cho thế hệ trẻ noi theo, để học tập anh mà một lòng theo cách mạng, tiêu biểu cho sự giáo dục của cụ là bé Heng – bé Heng đã tiếp thu truyền thống của anh Tnú qua cách giáo dục của cụ Mết. Trong lòng cụ, Tnú hiện lên chân thật với “đời nó khổ nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta”. Cụ thương những người dân làng Xô-man như người thân trong nhà với một sự đùm bọc, lãnh đạo che chở cho tất cả các thành viên. Từ đó, mà cụ trở thành người cha tinh thần, người truyền ngọn lửa tự do, và là linh hồn cuộc khởi nghĩa đồng khởi của dân làng Xô- man.

Cụ Mết không phải là nhân vật chính trong ngòi bút của nhà văn.Nhưng qua tác phẩm,ta cũng thấy được vai trò to lớn của cụ Mết trong việc tô thắm hình tượng nhân vật Tnú với lối kể chuyện lồng trong chuyện qua chuyện một đêm của làng Xô-man. Hình ảnh cụ Mết khiến ta liên tưởng tới nhân vật chú Năm trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”.Hai con người ở hai vùng miền nhưng trong cùng một thời đại, là thế hệ đi trước, là lịch sử, là người giữ lửa và truyền ngọn lửa cho các thế hệ trẻ, là tinh thần của dân tộc góp phần to lớn vào thắng lợi chung của cả nước vào một ngày giải phóng hoàn toàn đất nước, dân tộc được tự do.

Hình ảnh cụ Mết tuy xuất hiện ít qua ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trung Thành, nhưng những gì nhà văn miêu tả về người già làng với một lòng theo Đảng, tin tưởng cách mạng càng làm thêm giá trị cho tác phẩm Rừng xà nu có sức âm vang tới hôm nay và mai sau. Trong lòng bạn đọc, cụ Mết mãi là hình tượng bất tử của cây xà nu đại thụ vươn sức bảo vệ cho thế hệ trẻ phát triển để thực hiện thắng lợi thành công cuộc cách mạng dân tộc này.

Phân tích nhân vật cụ Mết – Mẫu 3

Nguyễn Trung Thành là một nhà văn tiêu biểu cho nền văn học hiện đại, cách mạng của dân tộc Việt Nam. Những tác phẩm của Nguyễn Trung Thành thường gắn liền với những số phận người con vùng Tây Nguyên. Những người dân chất phác, hiền hậu, nhưng vô cùng anh dũng, kiên cường, luôn một lòng một dạ hướng về sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, căm thù cái ác, căm thù giặc sâu sắc.

Trong tác phẩm “Rừng xà nu” bên cạnh những nhân vật anh hùng như Tnú, Mai, là những người đại diện cho lớp trẻ, kiên cường, bất khuất, như những cây xà nu non tới lúc trưởng thành. Thì nhân vật cụ Mết lại là hình ảnh đại diện của cây xà nu cao lớn trường thành, vững trãi, đã trải qua những thời kỳ giông bão, để trở nên hiên ngang, không gì có thể lung lay được.

Cụ Mết là một nhân vật góp phần làm cho tính sử thi trong tác phẩm trở nên đậm nét hơn. Cụ Mết giống như người già làng, trưởng bản kiên cường, là linh hồn của bản làng của núi rừng Tây Nguyên, là người dẫn dắt lớp trẻ đứng lên tiếp tục sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi kiếp nô lệ, hướng những người trẻ đi theo những giá trị chân chính.

Ngay từ khi xuất hiện, người đọc đã cảm nhận được rằng cụ Mết là người vô cùng mạnh mẽ thể hiện trong những chi tiết mà tác giả nêu ra “Một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy Tnú như một cái kìm sắt”.

Tuy đã qua thời kỳ xuân xanh không còn ở tuổi trai tráng lực lưỡng nhất nhưng cụ Mết vẫn giữ được uy lực của một người già làng, trưởng bản, một con người cả cuộc đời hiên ngang, quen dầm mưa dãi nắng, được núi rừng tô luyện cứng như đá, kiên cường, quắc thước….Không sợ bất kỳ một thế lực nào, hiên ngang, sừng sững..

Cụ Mết như những cây xa nu đã trưởng thành dù mưa bão cũng không làm lung lay được. Mưa bão chỉ có thể quật ngã làm đổ những cây non, những cây không đủ sức chống đỡ với bão táp, còn những cây xà nu trưởng thành thì không có gì làm nó gục ngã.

Trong tính cách của mình cụ Mết cũng là người vô cùng đặc biệt. Thông qua những câu nói vô cùng uy lực khi ra lệnh cho mọi người. Dù chỉ là những câu nói giản dị, nhưng chứa đựng tinh thần quyết đoán của người đứng đầu. Cụ Mết không có thói quen khen ngợi người khác, tâng bốc người ta lên mây xanh, mà mỗi khi hài lòng một việc gì đó cụ Mết chỉ gật gù cái đầu và nói ‘được”.

Tiếng nói của cụ Mết là những âm thanh vô cùng vang động “tiếng nói ồ ồ dội vang trong lồng ngực” là tiếng nói của một người ngay thẳng, không bao giờ nói hai lời.

Cụ Mết cũng là người vô cùng yêu quê hương đất nước, yêu bản làng núi rừng Tây Nguyên của mình. Cụ cũng là người có trái tim vô cùng nhân hậu, khi cha mẹ của Tnú mất đi bỏ Tnú ở lại thế giới trần gian một mình. Chính cụ Mết đã mang Tnú về nuôi, coi Tnú như con cháu trong nhà dạy cho Tnú biết săn bắn, biết sống như những cây xà nu hiên ngang sừng sững.

Khi T nú đi xa trở về cụ Mết thường dẫn anh ra suối tới những chỗ có máng làm bằng tre trở nước từ thượng nguồn về cho T nú gội đầu để gợi cho anh những kỷ niệm của quê hương, của mảnh đất thân thương gắn liền với mỗi người dân ở đây.

Trong những câu chuyện của mình kể cho T nú nghe cụ Mết luôn thể hiện cho T nú thấy sức mạnh của cây xà nu của làng. Muốn cho T nú thấy rằng anh cần phải yêu mảnh đất này, cần sống như những cánh rừng xà nu kia, kiên cường, bất khuất dù mưa gió, súng đạn có bắn phá xuống thì cánh rừng xà nu vẫn luôn vươn lên xanh tốt, như sức sống mãnh liệt của những người con núi rừng Tây Nguyên.

Cụ Mết cũng là người yêu cách mạng, giác ngộ cách mạng sâu sắc chính vì vậy mà ông cụ luôn dặn con cháu rằng “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn” đây là những câu nói của một con người có lòng trung thành với tuyệt đối với con đường cách mạng mà mình đã chọn. Ông yêu quê hương của mình và cũng chính vì yêu nên ông muốn bảo vệ nó cho tới cùng, để bảo vệ quê hương mảnh đất thân yêu này thì chỉ con đường duy nhất là con đường theo cách mạng.

Khi Tnú đi bị giặc dùng nhựa xà nu đốt cháy mười đầu ngón tay của anh, cả bàn tay nay chỉ con hai ngón. Anh trở về làng cụ Mết đón anh bằng tấm lòng của một người cha, vô cùng thương yêu Tnú ông cụ còn động viên tinh thần cho anh “Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được”.

Trong những câu nói của mình ông đều thể hiện một tinh thần vô cùng quyết tâm, không chịu khuất phục, không vì thế mà lùi bước, trở thành người tàn phế. Ông dạy Tnú tinh thần kiên cường, hiên ngang dù cái chết có thể cận kề bất cứ lúc nào.

Câu nói của cụ Mết cũng giúp cho Tnú giải tỏa được những muộn phiền ở trong lòng, khi anh cảm thấy cuộc đời mình không phải như thế đã trở thành vô dụng. Anh có thể làm rất nhiều việc khác, vẫn có thể tiếp tục chiến đấu, cống hiến sức mình cho cách mạng, cho con đường bảo vệ quê hương mà anh đã chọn.

Cụ Mết thương Tnú như thương con trai mình. Ông cụ chăm sóc Tnú từ bé, nên khi nhìn con trai mình bị đốt mười đầu ngón tay trong bữa cơm. Ông cụ giận dữ ném chén cơm xuống. Đó là nỗi lòng căm thù, hận tới tận xương tủy lũ giặc tàn ác đã khiến cho Tnú của ông bị như vậy.

Mỗi lần ông cụ nhắc lại chuyện cũ, những tội ác mà lũ giặc đã gây ra thì những giọt nước mắt của ông lại rơi xuống, ông cụ lấy tay lau những giọt nước mắt một cách vụng về, như đang cố kìm nén nỗi xúc động trong lòng mình.

Không chỉ là trụ cột về tinh thần, của dân làng Xô Man cụ Mết còn là người có con mắt chiến lược nhìn xa trông rộng. Cụ luôn lo lắng cho những cuộc chiến của người dân, luôn động viên người dân làng phải biết tích lũy lương thực vì cuộc kháng chiến chống Mỹ còn dài, không phải kết thúc trong ngày một ngày hai được.

Trong tác phẩm “Rừng xà nu” cụ Mết chính là hình tượng vô cùng đẹp như một tộc trưởng, già làng vô cùng oai hùng. Cụ Mết chính là linh hồn là người dẫn dắt dân làng Xô Man đi theo con đường chính đạo, đi theo con đường giải phóng dân tộc, giác ngộ cách mạng căm thù cái ác.

Phân tích nhân vật cụ Mết – Mẫu 4

Trong truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành, nếu được hỏi nhân vật nào là một chứng nhân lịch sử đi cùng những biến cố thời đại và con người của dân làng Xô Man thì có lẽ câu trả lời chính là cụ Mết. Dù không xuất hiện nhiều hay được miêu tả nhiều trong câu chuyện tuy nhiên cụ Mết lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc đời của Tnú, của quá trình đấu tranh của dân làng Xô Man.

Cụ Mết là một già làng, có thể nói là trưởng làng của buôn làng Xô Man. Cụ là người đàn ông mạnh mẽ, nghị lực và đầy khí phách. Khí phách của cụ đã được tác giả miêu tả qua ngoại hình: cụ có khuôn mặt quắc thước, đôi mắt đen sáng, râu dài tới ngực và có bộ ngực cường tráng, tiếng nói vang ồ ồ trong lồng ngực. Cách miêu tả ngoại hình của cụ Mết cũng cho thấy đây là một con người rất mạnh mẽ, dứt khoát và đầy khí thế. Cụ là người đứng đầu buôn làng Xô Man, đóng vai trò cầm cân nảy mực, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của người dân trong buôn làng.

Cụ Mết cũng là nhân vật được miêu tả đậm chất sử thi, tính sử thi được biểu hiện thông qua con người cụ từ ngoại hình, tính cách đến hành động của cụ. Cụ rất nghiêm nghị, quắc thước. Khi Tnú về thăm làng, cụ yêu cầu mọi người ngồi vây quanh mình, im lặng để cụ kể chuyện về cuộc đời của Tnú. Và tất cả mọi người kể cả người già, kể cả trẻ nhỏ quả nhiên đã ngồi lặng im lắng nghe từng câu nói của cụ Mết.

Cả cuộc đời của Tnú, không có chặng đường nào là không có sự chứng kiến của cụ Mết. Có thể nói, nếu câu chuyện của Tnú là câu chuyện của một cuộc đời, của một thời đại thì cụ Mết cũng chính là một phần quan trọng trong đó, cụ còn là người chứng kiến và lưu truyền câu chuyện đó cho những thế hệ tiếp theo. Khi Tnú còn nhỏ mồ côi cha mẹ, Tnú lớn lên trong vòng tay bảo bọc của dân làng Xô Man, Tnú cùng Mai nuôi giấu cán bộ trong rừng, tất cả những điều đó một mình Tnú không thể tự làm mà phải có sự định hướng, ủng hộ và giúp đỡ của người dân trong làng Xô Man đặc biệt là cụ Mết.

Khi Tnú chứng kiến vợ con mình chết và chính bản thân anh cũng lao ra để rồi bị giặc tra tấn thì cụ Mết chính là người cầm quân, dẫn đầu buôn làng tiến lên chiến đấu. Tiếng nói của cụ Mết như là một hiệu lệnh mà tất cả bà con trong buôn làng đều nghe theo. Cụ hô hào mọi người đứng dậy và bản thân cụ là người đi đầu, trực tiếp lao vào quân địch mà chiến đấu.

Mỗi khi ai đó làm tốt một việc gì, cụ chỉ gật đầu khen “được” đó là một câu nói chất chứa nhiều cảm tình nhưng cũng đầy hi vọng vào tương lai, muốn con cháu của buôn làng phát huy hơn nữa, không tự kiêu mà bỏ quên nhiệm vụ. Con người cụ Mết là vậy nên luôn được Tnú kính trọng, được cả dân làng Xô Man kính trọng. Tnú khi về cũng đến thăm và chào hỏi cụ, lắng nghe cụ nói với một thái độ cung kính. Dân làng thì chỉ chờ và làm theo những hiệu lệnh của cụ. Coi cụ như một hình mẫu mực thước để tất cả cùng noi theo.

Con người cụ Mết, cũng giống như Tnú cũng như những cánh rừng xà nu đều hiên ngang bất khuất, mang đậm dấu ấn sử thi kiên cường vững chãi trước bão tố cuộc đời, trước hoàn cảnh lịch sử đầy tai biến.

Cụ Mết một lòng trung thành với Đảng, với cụ Hồ, với cách mạng. Khi thấy Tnú về và đạt được những chiến tích nhất định trong chiến đấu, cụ mừng lắm, cụ luôn tỏ thái độ tôn kính đối với Bác, với cộng sản. Cụ dù tuổi đã cao nhưng vẫn là một cây xà nu đại thụ giữa cánh rừng xà nu đại ngàn của núi rừng Tây Nguyên.

Nếu không có cụ Mết có lẽ câu chuyện về cuộc đời Tnú, về buôn làng Xô Man sẽ không được kể hoặc sẽ được kể trên một phương diện khác, cái nhìn khác. Cụ Mết chính là người giữ lửa, truyền lửa, truyền tinh thần yêu nước, nhiệt huyết cách mạng đến tất cả các thành viên trong buôn làng Xô Man. Cụ cũng là một biểu tượng anh hùng, một con người sử thi đối với câu chuyện Rừng xà nu nói riêng và đối với cả buôn làng Xô Man nói chung.

Phân tích nhân vật Cụ Mết – Mẫu 5

Nguyễn Trung Thành là nhà văn trưởng thành qua những cuộc kháng chiến của dân tộc. Ông viết rất nhiều tác phẩm gắn liền với những con người và mảnh đất núi rừng Tây Nguyên hoang sơ hùng vĩ. Thể hiện sự gắn bó của nhà văn với những con người nơi đây.

Tiêu biểu cho phong cách của tác giả chính là truyện ngắn “Rừng xà nu” được xuất bản năm 1965 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Truyện ngắn thể hiện sự anh hùng kiên cường quả cảm của những người dân Tây Nguyên. Hình ảnh những người dân làng Xô Man mà đứng đầu chính là cụ Mết chính là hình tượng cây xà nu anh hùng đại thụ vượt qua nhiều trận bom rơi, đạn nổ nhưng vẫn kiên cường hiên ngang trong gió bão.

Cụ Mết chính là linh hồn của người dân làng Xô Man, là người soi đường cho những thế hệ trẻ đi theo con đường yêu nước, con đường cách mạng của dân làng. Nhân vật cụ Mết được coi như già làng trưởng bản của làng Xô Man, cụ Mết không xuất hiện ở ngay đầu tác phẩm nhưng mỗi lần xuất hiện đều toát lên vẻ oai hùng, của một người lãnh đạo cầm đầu, để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc. Một bàn tay chắc nịch nắm lấy vai Tnú như một kìm sắt, khi anh nhìn cảnh Mai và con mình bị hành hạ, Tnú định từ gốc cây chạy ra nhưng bàn tay cụ Mết đã giữ anh lại.

Ông cụ có khuôn mặt quắc thước ấy râu dài tới ngực, đen bóng đôi mắt ông sáng lên, những vết sẹo trên người cũng láng bóng, ngực căng lên như một cây xà nu lớn trưởng thành qua gió bão. Nhà văn Nguyễn Trung Thành đã miêu tả cụ Mết bằng những câu văn miêu tả một vị anh hùng, một già làng tộc trưởng được vạn người kính trọng. Qua những nét vẽ đó ta thấy được cụ Mết là người vô cùng cường tráng, khỏe mạnh có diện mạo quắc thước, minh mẫn thể hiện sự nhanh nhẹn trong hành động lời nói và trí tuệ.

Trong nhân vật này chứa đựng sự trưởng thành của một con người từng trải đã trải qua nhiều nắng gió của thời gian, của những khó khăn vất vả tạo thành một con người kiên cường bất khuất không sợ gì. Trong giọng nói của cụ Mết tác giả Nguyễn Trung Thành miêu tả cụ có giọng nói ồ ồ vang rộn cả núi rừng Tây Nguyên. Những lời nói của cụ tựa như sấm truyền. Mỗi lần cụ nói như ra lệnh không bao giờ khen tốt hay giỏi với bất kỳ ai mà chỉ nói những lời nói mang tính chất khích lệ như “Được”. Nhưng mỗi lời ông cụ nói đều chắc nịch thể hiện một mệnh lệnh.

Trong lúc Tnú bị bọn thằng Dục tay sai bắt và tra tấn dã man lúc chúng tẩm nhựa xà nu vào mười đầu ngón tay Tnú và đốt trong khoảnh khắc ấy từ “Giết” của cụ Mết vang lên như một lời sấm truyền. Cụ đã chính tay giết chết tên Dục rồi cùng dân làng Xô Man cứu Tnú thoát khỏi vòng vây sự tra tấn của kẻ thù. Khi Tnú cùng quẫn, bất động vì vợ con bị giết chết, mười đầu ngón tay bị thiêu đốt còn hai nhưng cụ Mết chính là người đã cho anh sức mạnh, cho anh thêm nghị lực để tiếp tục đứng lên chiến đấu với kẻ thù. Cụ Mết nói “Không có tay cũng có thể dùng súng giết giặc”.

Cụ Mết luôn trung thành với Đảng với cụ Hồ Chí Minh đó là tình cảm sâu sắc mà cụ dành cho quê hương thể hiện sự trung thành của một người con dân tộc. Tác giả Nguyễn Trung Thành khi nói tới nhân vật cụ Mết đều dùng những từ ngữ vô cùng thành kính sâu sắc thể hiện sự yêu mến quý trọng của tác giả với nhân vật này.

Đối với Tnú hay những đứa trẻ trong làng Xô Man thì cụ Mết luôn là một tấm gương sáng để cho thế hệ sau phải noi theo. Tình yêu quê hương, trung thành với cách mạng của Tnú, của bé Heng, bé Dít đều do cụ Mết truyền lửa. Cụ Mết chính là người cha già của dân làng Xô Man, là người soi sáng tinh thần, truyền ngọn lửa tự do cho những người dân nơi đây.

Hình ảnh cụ Mết tuy xuất hiện không nhiều trong tác phẩm Rừng xà nu nhưng lại là nhân vật vô cùng quan trọng, thông qua những gì mà nhà văn miêu tả về nhân vật này thì cụ Mết chính là già làng với tinh thần yêu nước sâu sắc một lòng tin tưởng vào cách mạng, vào Bác Hồ. Cụ Mết đã đọng lại trong lòng người đọc bởi hình ảnh mạnh mẽ, anh hùng, một người truyền lửa cho những người dân làng Xô Man, cụ tựa như cây xà nu trưởng thành hiên ngang, kiên cường trong gió bão.

Phân tích nhân vật Cụ Mết – Mẫu 6

Trong thời đại chống Mĩ, chủ nghĩa yêu nước là nội dung xuyên suốt trong văn học Việt Nam. Nó bùng cháy mạnh mẽ và phát triển lên một bước mới thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Bởi vậy, trong các tác phẩm không chỉ xuất hiện của những cá nhân anh hùng, xuất chúng mà còn xuất hiện cả tập thể anh hùng. Trong tác phẩm Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành bên cạnh nhân vật Tnú còn nổi bật lên tập thể anh hùng làng Xô Man, trong đó nổi bật hơn cả là nhân vật cụ Mết.

Với nhân dân làng Xô Man, cụ Mết chính là già làng, người cao tuổi nhất đồng thời là người đại diện cho nguyện vọng của cộng đồng, là người kết tinh sức mạnh, ý chí của cộng đồng. Đồng thời cụ Mết cũng chính là người trực tiếp kể cho dân làng Xô Man về Tnú. Là một người già làng, có tiếng nói đầy quyền uy khiến cho những chi tiết liên quan đến cuộc đời Tnú trở nên chân thực, khách quan. Hơn nữa lối kể và giọng điệu mang đậm chất sử thi của cụ, khiến cho câu chuyện về người anh hùng Tnú càng trở nên lôi cuốn, hấp dẫn hơn.

Cụ mết chính là con người thuộc thời đại “Đất nước đứng lên”, cụ đã trải qua cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ để tiếp tục cùng con cháu và thế hệ trẻ vùng lên trong cuộc kháng chiến chống Mĩ hào hùng. Cụ vừa là biểu tượng cho quá khứ vẻ vang, rực rỡ, vừa là người giữ và truyền lửa cho thế hệ sau.

Dù đã cao tuổi những cụ Mết vẫn giữ được vẻ quắc thước như xưa, cụ vẫn là cây xù lớn của buôn làng, bàn tay cụ trắc nịch, khỏe khoắn,… Dù chỉ là một vài chi tiết, những tác giả đã cho thấy, dù cụ mất đã già nhưng vẫn có thể lực vô cùng dẻo dai, cường tráng, diện mạo của cụ dường như vượt qua được sức tàn phá mạnh mẽ của thời gian; diện mạo này cũng phần nào chứng tỏ vai trò trụ cột, chống đỡ như cây xà nu lớn của cụ Mết với dân làng Xô Man.

Ẩn đằng sau vẻ đẹp khỏe khoắn, dẻo dai là vẻ đẹp phẩm chất ngời sáng của cụ. Trước hết cụ là người có tình yêu Đảng, yêu cách mạng sâu sắc, điều này được thể hiện trong cả cuộc đời đấu tranh bền bỉ, kiên cường của cụ Mết, mà chứng tích để lại chính là vết sẹo hằn in trên má.

Cụ Mết đã một lòng theo Đảng, cách mạng để đi từ kháng chiến chống Pháp đến kháng chiến chống Mĩ trong vai trò trụ cột, chỉ huy, lãnh đạo dân làng Xô Man. Tình yêu với Đảng, cách mạng còn được thể hiện qua những lời nói giản dị mà đầy ý nghĩa: “Đảng còn. Núi nước này còn”. Không khoa trương ồn ào, nhưng bằng chính lối tư duy mộc mạc, ngôn ngữ tự nhiên, đã thể hiện tình yêu Đảng sâu sắc của cụ, đồng thời khơi dậy tình yêu đó trong lòng mỗi người dân làng Xô Man.

Không chỉ vậy cụ còn là người có kinh nghiệm sống, bản lĩnh và từng trải. Chính những điều ấy khiến cho cụ luôn đưa ra những quyết định đứng đắn, sáng suốt trong những thời điểm quan trọng nhất. Cụ cũng là người đã nhận ra: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”, cũng chính cụ đã vượt qua được sự nôn nóng của Tnú để quay vào rừng, sau đó cùng thanh niên, trai tráng quay trở lại cứu Tnú. Kinh nghiệm bản lĩnh sống của cụ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của dân làng Xô Man.

Cụ cũng là người luôn tìm cách giữ lửa, truyền lửa và động viên thế hệ mai sau tiếp bước con đường của thế hệ cha anh. Và vai trò quan trọng nhất của cụ Mết cũng là phẩm chất nổi bật nhất chính là việc cụ đưa ra những đúc kết và thay tác giả phát ngôn cho những chân lí của thời đại, cộng đồng.

Từng lời chậm rãi, nhưng dõng dạc, chắc nịch: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”, thể hiện sự nhạy bén của cụ trước sự đổi thay của thời đại. Bởi chỉ với bàn tay không Tnú đã không cứu được vợ con, bản thân cũng bị giặc hành hạ tàn bạo; bởi chỉ có bàn tay không nên rất nhiều người dân đã ngã xuống. Cụ đã nhận thức được rằng, thời đại đã thay đổi, quân xâm lược ngày càng sử dụng những vũ khí tối tân với cách đánh tinh vi hơn, bởi vậy chỉ với bàn tay không thì ta chắc chắn sẽ thất bại.

Câu nói của cụ đã đặt ra nhiệm vụ cấp thiết là phải chuyển từ đấu tranh tự phát, sang đấu tranh tự giác, đấu tranh vũ trang với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo. Điều đó không chỉ có ý nghĩa quan trọng với cuộc đấu tranh của người dân Tây Nguyên mà nó còn là chân lí của thời đại, kết tinh từ trí tuệ của cộng đồng. Cụ Mết đã thay tác giả phát ngôn chân lí đó. Bằng sự trải nghiệm và kinh nghiệm sống dày dặn, cụ làm cho nhận thức đó trở nên sâu sắc và có giá trị hơn.

Với dân làng Xô Man, cụ Mết chính là linh hồn, chỗ dựa vững chắc cả về sức mạnh lẫn tư tưởng, nhận thức. Cụ vừa là hiện thân của quá khứ hào hùng để trở thành tấm gương sáng cho thế hệ sau, vừa là một người dìu dắt, giúp đỡ, thúc đẩy lịch sử đấu tranh của làng Xô Man và nhân dân Tây Nguyên mỗi lúc một hào hùng hơn.

Phân tích nhân vật Cụ Mết – Mẫu 7

Nếu như trong tác phẩm “Người lái đò” của nhà văn Nguyễn Tuân đã vẽ nên một nhân vật ông lái đò dũng cảm, hiên ngang chiến đấu với sức mạnh của thiên nhiên, thì cụ Mết của tác giả Nguyễn Trung Thành trong tác phẩm Rừng xà nu được nổi bật lên bởi sự vững chắc, rắn rỏi được tạc nên bởi núi rừng Tây Nguyên.

Không được tập trung khai thác như nhân vật Tnú, thế nhưng cụ Mết vẫn gây được những ấn tượng mạnh mẽ trong lòng độc giả. Ngay từ khi xuất hiện, một vị già làng dưới ngòi bút của tác giả được thể hiện qua những chi tiết “một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy Tnú như một cái kìm sắt”, hay “mắt sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn láng bóng… ngực căng như một cây xà nu lớn”. Bằng nghệ thuật miêu tả, hình ảnh cụ Mết hiện lên đầy oai hùng, vững chãi, tràn đầy sức mạnh cả về sức khỏe lẫn tinh thần.

Không chỉ thế, núi rừng mạch nguồn Tây Nguyên đã làm nên cho cụ một giọng nói “ồ ồ, dội vang trong lồng ngực”. Những lời cụ nói như ra lệnh, không bao giờ cụ khen tốt hay giỏi nếu vừa ý thì nói “Được”. Lời nói của cụ đã truyền sức mạnh vào trong những bài giảng về lịch sử oanh liệt của dân làng Xô Man, tiếng nói thiết tha trang nghiêm khi răn dạy con cháu “Nghe rõ chưa các con? Rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy”.

Đặc biệt, sức mạnh ấy đã được bùng nổ khi cụ ra mệnh lệnh chiến đấu khi hay tin Tnú bị giặc đốt cháy mười ngón tay: “Chém! Chém hết”. Giọng nói của cụ là tiếng của cả dân tộc, là tiếng nói của lịch sử, đã dẫn dắt biết bao thế hệ lớn lên, trưởng thành và biết chiến đấu vì đất nước.

Cụ Mết còn là một người có tình yêu sâu sắc, gắn bó máu thịt với quê hương. Cụ dạy Tnú, cùng các thế hệ sau rằng: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn núi nước này còn”. Cụ luôn nhắc nhở những người con xa quê rằng: dù đi tới phương trời nào cũng phải luôn ghi nhớ và trân trọng về cội nguồn dân tộc.

Cụ luôn tự hào vì được sinh ra và lớn lên cùng với nắng gió Tây Nguyên, cùng với những rặng xà nu bạt ngàn luôn hiên ngang trước sóng gió. Cụ khẳng định rằng: “Không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”, “Gạo người Strá mình làm ra ngon nhất rừng núi này”. Với cụ Mết, từng giọt nước ta uống, từng bát cơm ta ăn mà đất nước mang lại đều thật đẹp đẽ và đáng trân trọng biết bao.

Chính vì những tư tưởng ấy, cụ đã dẫn dắt dân làng Xô man cùng những bài giảng giáo dục hết sức vẻ vang về lịch sử dân tộc. Cụ am hiểu về cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc “đánh thằng Mỹ phải đánh lâu dài”. Đặc biệt hơn nữa, cụ là một người có tính kỉ luật rất lớn khi tổ chức, chỉ huy dân làng lánh vào rừng đợi thời cơ đánh giặc: “Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dụ, một cây rựa, ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông”.

Trong suốt thời kỳ chống Mỹ, cụ đã trở thành một chỗ dựa vững chắc cho dân làng Xô man. Cụ động viên dân làng lo dự trữ lương thực để có thể đủ ăn tới ba năm bởi “đánh mỹ phải đánh dài”. Tuy trong lòng cụ sục sôi vì nỗi căm thù quân giặc, nhưng cụ vẫn giữ bình tĩnh, sáng suốt để tìm ra con đường đúng đắn nhất để lãnh đạo dân làng chiến đấu. Tinh thần của cụ luôn hừng hực, khí thế tựa như những đại đại thụ Xà nu tại chốn rừng Tây Nguyên.

Với vẻ ngoài hào kiệt, uy nghi là thế, cụ lại mang trong mình một trái tim dạt dào tình yêu thương với dân làng. Khi Tnú được trở về chỉ với những đốt tay còn sót lại sau khi bị giặc đốt, cụ kìm nén những cảm xúc đau buồn để khích lệ anh “Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được”.

Khi kể cho dân làng nghe về cái chết của vợ con Tnú, cụ cũng không kìm nổi sự căm phẫn tiếc thương, cụ thương cho những người con, người cháu vô tội của cụ đã bị giết bởi những tên giặc mạn rợ, cụ thương cho cuộc đời của Tnú, cụ “vụng về trở bàn tay lau một giọt nước mắt”. Trải qua biết bao sự mất mát, chia ly bởi bom đạn, cụ vẫn phải rơi những giọt nước mắt bởi dân làng, người thân của cụ. Chính cử chỉ vụng về ấy đã bộc lộc trái tim nhân hậu, yêu thương đồng bào của cụ. Cụ đã trở thành ngọn lửa sưởi ấm trái tim, xoa dịu nỗi đau của biết bao con người. Cụ Mết chính là linh hồn của cả một dân tộc Việt Nam và dân làng Xô Man nói riêng.

Hình ảnh cụ Mết tuy ít xuất hiện trong bài, nhưng dưới ngòi bút của Nguyễn Trung Thành, nhân vật cụ Mết với những phẩm chất ưu tú hơn người, đã mang trọn những tinh thần kiên cường, bất khuất của nhân dân Tây Nguyên. Trong lịch sử của chúng ta, không có ít người như cụ Mết, thế nhưng hình ảnh của cụ già làng sánh vai cùng cây xà nu đại thụ trong Rừng xà nu sẽ sống mãi cùng mọi thế hệ.

Rate this post
Phân tích sự sống đối mặt với cái chết trong Vợ nhặt
cách làm bài văn nghị luận chi tiết nhất

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *