Bệnh HIV gây ra bởi virus HIV (màu xanh trong hình)

HIV: Nguyên nhân, dấu hiệu, chẩn đoán và các phương pháp điều trị

HIV là căn bệnh thế kỉ, gây biết bao chết chóc trên toàn thế giới. Vậy bệnh là bệnh gì? Bệnh có triệu chứng gì và được chẩn đoán ra sao? Có những cách nào để điều trị bệnh? Hãy cùng chiase24.com tìm hiểu về qua bài viết dưới đây.

Định nghĩa tổng quan là gì?

Bệnh HIV gây ra bởi virus HIV (màu xanh trong hình)

Bệnh gây ra bởi virus (màu xanh trong hình)


HIV là tên viết tắt của human immunodeficiency virus. Bệnh HIV là bệnh do virus HIV gây nên. Bệnh còn được gọi là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người hoặc bệnh liệt kháng. Bệnh gây suy giảm hệ miễn dịch, tăng nguy cơ mắc các loại nhiễm trùng, viêm nhiễm, ung bướu. 
HIV không thể chữa khỏi và bệnh không có thuốc phòng ngừa. Việc điều trị chỉ giúp làm chậm tiến trình của bệnh và giúp bệnh nhân sống lâu hơn. 

Nguyên nhân HIV

Bệnh HIV xảy ra do virus HIV xâm nhập vào cơ thể.

Chủng HIV-1 là chủng gây bệnh

Chủng HIV-1 là chủng gây bệnh


Virus HIV thuộc họ retroviridae. Chúng có 2 chủng, chủng HIV-1 bắt nguồn từ tinh tinh và chủng HIV-2 bắt nguồn từ khỉ Sooty Mangabey. Chủng HIV-1 là chủng gây bệnh HIV.
Khi virus đi vào cơ thể người, chúng xâm nhập vào tế bào bạch cầu CD4 (một dạng lympho bào T). Chúng cũng cư trú ở các tế bào quan trọng khác của hệ miễn dịch như ở lympho bào B, đại thực bào, tế bào tua. 
Chúng chiếm lấy cơ chế nhân rộng của tế bào, sử dụng tế bào CD4 như “nhà máy” để sản sinh ra hàng trăm ngàn bản sao mới và phá huỷ CD4. Tiếp đó, chúng tìm tới các tế bào CD4 mới và bắt đầu quá trình nhân rộng mới. 
CD4 là thành phần quan trọng của hệ miễn dịch. Khi CD4 giảm hụt và số lượng virus tăng lên, nguy cơ nhiễm trùng do HIV tăng cao, nguy cơ lây nhiễm bệnh cũng tăng cao.
HIV tấn công CD4 và gây rối loạn miễn dịch

HIV tấn công CD4 và gây rối loạn miễn dịch


Virus HIV gây hàng loạt rối loạn miễn dịch:

  • Giảm số lượng tế bào lympho T toàn phần, đặc biệt là CD4
  • Giảm khả năng sinh bào của các chất gây phân bào và kháng nguyên
  • Giảm đáp ứng độc tế bào của CD8 và Natural Killer
  • Tăng phức hợp miễn dịch trong huyết thanh
  • Tăng kháng thể trong huyết thanh
  • Tăng gamma-globulin
  • Giảm đáp ứng kháng thể nguyên phát
  • Giảm gamma-interferon. 

Giai đoạn và triệu chứng của HIV

1. Giai đoạn nhiễm trùng cấp tính

Bạn có thể bị sốt kèm theo phát ban

Bạn có thể bị sốt kèm theo phát ban


Giai đoạn nhiễm trùng cấp tính còn được gọi là giai đoạn nhiễm trùng tiên phát. Ở giai đoạn này người bệnh vừa mới tiếp nhận các chất dịch cơ thể (máu, tinh dịch, các dịch sinh dục khác) từ người nhiễm trước đó..
Khoảng 2-4 tuần sau phơi nhiễm, bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng giống-cúm:

  • Sốt nhẹ, khoảng 37.5-38.5 độ
  • Nổi hạch
  • Viêm họng
  • Da phát ban
  • Đau cơ, mỏi cơ
  • Khó chịu, mệt mỏi
  • Lở miệng và thực quản
  • Nhức đầu
  • Buồn nôn, nôn ói
  • Sưng gan, lách, có thể sờ thấy được qua da
  • Tiêu chảy
  • Sụt cân, giảm cân nhanh chóng

Nguyên nhân là do đây là thời điểm virus di chuyển vào máu và nhân rộng mạnh mẽ. Các triệu chứng này tồn tại trong ít nhất là một tuần, nhưng trung bình là 28 ngày. Do các triệu chứng này giống cúm, bệnh nhân thường không biết rằng mình đã bị nhiễm HIV mà thường nghĩ rằng mình chỉ bị cảm cúm nhẹ. 
Một vài bệnh nhân không xuất hiện triệu chứng nào. Các xét nghiệm sàng lọc phổ thông cũng không xác định được bệnh trong giai đoạn này nên đây còn gọi là thời kỳ “cửa sổ”. 

2. Giai đoạn mãn tính

Do phản ứng miễn dịch, cơ thể thường xuyên sưng hạch

Do phản ứng miễn dịch, cơ thể thường xuyên sưng hạch


Cơ thể phản ứng lại với virus qua hệ thống miễn dịch. Trong giai đoạn mãn tính, hệ miễn dịch tăng cường chiến đấu với virus, làm giảm số lượng của các hạt virus trong máu.
Giai đoạn mãn tính có thể kéo dài từ 2 tuần tới 20 năm tuỳ theo thể trạng của bệnh nhân. Virus HIV khu trú trong các hạch bạch huyết nên bệnh nhân thường xuyên thấy mình bị sưng hạch. Bệnh nhân vẫn có khả năng lây bệnh trong giai đoạn này.

a. Giai đoạn mãn tính không triệu chứng

Trong giai đoạn này, bạch cầu mới chỉ bị tiêu diệt một số lượng nhỏ, không đáng kể. Virus HIV vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ bên trong cơ thể
Nếu không xét nghiệm máu và không triệu chứng, người bệnh sẽ không sử dụng thuốc điều trị HIV. Giai đoạn này có thể phát triển âm thầm trong 10 năm hoặc hơn, nhưng sau đó bệnh sẽ tiến triển rất nhanh.
Những người có xét nghiệm sớm và sử dụng thuốc mỗi ngày sẽ trì hoãn tiến độ bệnh và kìm hãm sự tấn công của virus. 

b. Giai đoạn mãn tính có triệu chứng nhẹ

Người bệnh có thể giảm cân nhanh một cách bất thường

Người bệnh có thể giảm cân một cách bất thường


Số lượng virus tiếp tục gia tăng, tấn công và tiêu diệt hệ miễn dịch. Người bệnh có các triệu chứng cận-AIDS:

  • Giảm cân nhẹ
  • Loét miệng
  • Phát ban mẩn ngứa
  • Bệnh zona thần kinh 
  • Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên – viêm xoang, viêm tai giữa

3. Giai đoạn AIDS

Ở giai đoạn AIDS, miễn dịch qua trung gian tế bào đã bị vô hiệu. Cơ thể xuất hiện hàng loạt nhiễm trùng do các vi sinh vật cơ hội gây nên. Đây là giai đoạn cuối cùng của bệnh.

Aids là giai đoạn cuối cùng của HIV

Aids là giai đoạn cuối cùng của HIV


Bệnh nhân sẽ thấy mình có các triệu chứng sau:

  • Giảm cân mạnh không rõ nguyên nhân
  • Nhiễm trùng đường hô hấp tái phát – viêm phế quản, viêm họng, viêm tai giữa
  • Viêm da
  • Loét miệng
  • Da phát ban
  • Nổi hạch toàn thân kèm sốt
  • Tiêu chảy kéo dài
  • Dễ nhiễm vi nấm Candida species và bị nấm miệng
  • Dễ nhiễm bệnh lao
  • Bệnh zona thần kinh
  • Ung thư hạch bạch huyết
  • Viêm phổi
  • Viêm ruột
  • Tử vong

Giai đoạn này thường kéo dài không quá 2 năm, khiến người bệnh chỉ còn da bọc xương do virus phá huỷ quá nhiều. 

HIV lây qua đường nào?

HIV/AIDS chỉ có thể lây trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua 3 đường: máu, tình dục, và mẹ sang con. HIV có thể lây truyền ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình nhiễm bệnh.

1. HIV lây qua đường máu

Kim tiêm và các vật khác dính máu lây truyền HIV

Kim tiêm và các vật khác dính máu lây truyền HIV


Máu và các chế phẩm của máu có nhiễm HIV sẽ gây lây bệnh qua các việc:

  • Sử dụng chung bơm kim tiêm. Trường hợp này thường xảy ra ở đối tượng tiêm chích ma tuý.
  • Sử dụng chung kim xăm trổ, kim châm cứu, dụng cụ xăm lông mi, xăm lông mày, xăm môi, lưỡi dao cạo trong chữa bệnh và làm đẹp.
  • Sử dụng chung hoặc không diệt khuẩn các dụng cụ phẫu thuật, dụng cụ khám chữa bệnh.
  • Tiếp xúc vật dụng hàng ngày có dính máu (ví dụ như bàn chải đánh răng)
  • Tiếp xúc qua vết thương hở

2. HIV lây qua đường tình dục

Quan hệ tình dục thiếu an toàn là nguyên nhân chính gây viêm cổ tử cung

HIV lây qua đường tình dục


Trong quá trình quan hệ tình dục, các dịch thể bao gồm máu và dịch sinh dục xâm nhập vào cơ thể bạn tình. Mọi hình thức quan hệ tình dục bằng miệng, quan hệ bằng âm đạo hay bằng hậu môn đều mang nguy cơ lây nhiễm HIV nếu bạn có quan hệ với người bệnh dương tính. Mức độ nguy cơ cao nhất là qua đường hậu môn, đường âm đạo, và cuối cùng là đường miệng. 

3. HIV lây từ mẹ sang con

Em bé có thể lây bệnh HIV từ mẹ từ lúc mang thai, sinh, hoặc bú mẹ

Em bé có thể lây bệnh HIV từ mẹ từ lúc mang thai, sinh, hoặc bú mẹ


HIV có nhiều cơ hội lây truyền từ mẹ sang con. 

  • Khi mang thai, máu của người mẹ có thể đi qua nhau thai vào cơ thể thai nhi
  • Khi sinh con, HIV ở trong nước ối hay dịch âm đạo có thể xâm nhập vào trẻ. Máu từ người mẹ cũng có thể dính vào niêm mạc của bé.
  • Khi bé bú mẹ, HIV có thể đi vào cơ thể qua đường sữa, hoặc qua các vết rạn nứt ở núm vú và trú trên niêm mạc miệng của bé. 

Ai có nguy cơ nhiễm HIV cao?

Xăm trổ tăng nguy cơ nhiễm HIV

Xăm trổ tăng nguy cơ nhiễm HIV


Những đối tượng sau có nguy cơ nhiễm HIV cao:

  • Người sử dụng ma tuý
  • Người xăm trổ nhiều
  • Người sử dụng chung vật dụng hoặc có tiếp xúc trực tiếp với người nhiễm HIV
  • Người quan hệ tình dục bừa bãi, thiếu an toàn, hoạt động mại dâm
  • Trẻ em có mẹ dương tính với HIV trong thời gian mang thai và cho con bú

Chẩn đoán HIV

Xét nghiệm Elisa là một phương pháp chẩn đoán HIV

Xét nghiệm Elisa là một phương pháp chẩn đoán HIV


HIV cần được chẩn đoán qua xét nghiệm do các triệu chứng bệnh không điển hình, dễ lẫn với cúm thông thường. Nếu bệnh nhân có kết quả dương tính với bất kí xét nghiệm nào thì họ cần được xét nghiệm theo dõi trong vài tháng để kiểm lại kết quả.

  • Xét nghiệm acid nucleic (NAT) giúp tìm kiếm virus trong máu. Xét nghiệm này khá chính xác trong giai đoạn nhiễm HIV đầu. Tuy nhiên, đây là một phương pháp tốn kém. Phương này chỉ chỉ định cho bệnh nhân với nguy cơ phơi nhiễm HIV cao hay có các triệu chứng sớm của HIV.
  • Xét nghiệm kháng nguyên – kháng thể bằng xét nghiệm Elisa giúp tìm cả kháng nguyên lẫn kháng thể HIV. 
  • Xét nghiệm kháng thể có thể sử dụng nhanh tại cơ sở y tế địa phương hoặc tại nhà. Xét nghiệm này sử dụng máu tĩnh mạch và phát hiện HIV sớm hơn so với xét nghiệm khác sử dụng mẫu dịch tiết cơ thể. 
  • Xét nghiệm máu giúp đo lượng CD4. 

Ở người khoẻ mạnh, lượng CD4 ở khoảng 500-1500 tế bào/ mm3 máu. Bệnh HIV ở thể nhẹ nếu lượng CD4 ở mức 350-500 tế bào/mm3 máu. Nếu lượng CD4 dưới 200 tế bào/mm3 thì bệnh nhân đã ở giai đoạn cuối của HIV. 

Điều trị HIV bằng thuốc

1. Điều trị HIV bằng ART

Phác đồ ART giúp điều trị HIV

Phác đồ ART giúp điều trị HIV


Hiện không có vaccine nào giúp phòng ngừa lây nhiễm HIV hay thuốc điều trị nào loại bỏ toàn bộ virus HIV khỏi cơ thể.
Liệu pháp điều trị kháng virus (Antiretroviral therapy ART) sử dụng thuốc ARV nhằm làm chậm quá trình nhân lên của virus HIV trong cơ thể, đồng thời tăng cường hỗ trợ hệ miễn dịch của người bệnh.
Phương pháp này sử dụng hai hoặc nhiều loại thuốc:

  • Thuốc kháng retrovirus
  • Chất ức chế protease
  • Thuốc ức chế reverse transcriptase non-nucleoside (NNRTI)

Trong điều trị, bệnh nhân sẽ cho kết quả HIV âm tính lặp đi lặp lại nhiều lần. Tuy nhiên, nếu ngưng điều trị, số lượng virus sẽ tăng trở lại. 

2. Điều trị dự phòng bệnh lao

Bệnh lao do vi khuẩn lao gây nên

Bệnh nhân HIV nên được điều trị dự phòng lao


Ngoài điều trị HIV, bệnh nhân HIV còn cần được điều trị dự phòng các bệnh liên quan để giảm tỷ lệ tử vong. Lao tăng nguy cơ tử vong trong HIV. Đồng thời, HIV tăng nguy cơ mắc lao, tỷ lệ kháng thuốc và tử vong do lao.

3. Điều trị dự phòng các bệnh nhiễm trùng cơ hội

Phụ nữ mang thai có khả năng mắc lao cao

Phụ nữ mang thai nên dự phòng các bệnh viêm nhiễm


Các virus nhiễm trùng cơ hội sẽ theo virus HIV thâm nhập vào cơ thể.
Thuốc co-trimoxazole (CTX) được chỉ định cho người lớn, phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú và trẻ phơi nhiễm hoặc đã nhiễm HIV. Thuốc giúp ngăn ngừa một số bệnh nhiễm trùng như bệnh viêm phổi, bệnh do Toxoplasma và các bệnh khác.
Ngoài ra, bệnh nhân HIV cũng nên thực hiện sàng lọc kháng nguyên CrAg và điều trị dự phòng với thuốc fluconazole để ngăn ngừa bệnh viêm màng não

4. Tiêm chủng cho bệnh nhân HIV

Tiêm chủng giúp người mắc HIV dự phòng các bệnh nhiễm trùng, đảm bảo chất lượng cuộc sống. Việc tiêm vaccine BCG và vaccine sống (sởi, quai bị, rubella, thuỷ đậu) tuỳ thuộc vào tiến trình của bệnh HIV. Nếu người HIV mắc bệnh nặng thì không thể tiêm phòng được nữa. 

Cách chăm sóc và bảo vệ cơ thể của bạn khỏi HIV

1. Giáo dục về bệnh

Toàn dân nên tăng hiểu biết về bệnh HIV AIDS

Toàn dân nên tăng hiểu biết về bệnh HIV AIDS


Bạn nên tìm hiểu rõ về cách thức lây lan của bệnh HIV để có thể thay đổi sinh hoạt và phòng tránh bệnh. HIV chỉ có thể lây qua đường máu, đường tình dục và đường mẹ-con.
Những tiếp xúc thông thường hàng ngày sẽ không khiến bạn bị lây nhiễm HIV. Những người nhiễm HIV vẫn là những con người bình thường, cần cảm thông của xã hội thay vì xa lánh và dị nghị.

2. Cẩn thận trong sinh hoạt

HIV không lây qua việc sử dụng chung bát đũa nhưng bạn vẫn nên cẩn thận nếu ở chung nhà với người nhiễm HIV

HIV không lây qua việc sử dụng chung bát đũa nhưng bạn vẫn nên cẩn thận nếu ở chung nhà với người nhiễm HIV

  • Bạn chú ý tránh uống rượu và tuyệt đối không sử dụng ma tuý. Các chất kích thích làm giảm khả năng suy nghĩ và hành động, thúc đẩy những hành vi không an toàn. 
  • Không bao giờ dùng chung bơm kim tiêm. Bơm kim tiêm, sau khi sử dụng, cần được vứt vào một thùng rác riêng biệt để được xử lý đúng cách. 
  • Tránh chạm vào máu và dịch cơ thể của người khác. Các chất dịch gồm có tinh dịch, dịch âm đạo, niêm mạc trực tràng, sữa mẹ, nước ối, dịch não tuỷ, dịch hoạt động trong khớp. Sử dụng găng tay y tế nếu cần thiết.
  • HIV không lây qua đường tiếp xúc nước bọt như ăn chung món, chung mâm, chung chén đũa, uống chung ly. Tuy nhiên, nếu bạn ở cùng nhà với người nhiễm HIV, họ nên có chén đũa riêng để đảm bảo an toàn, đề phòng những đợt bệnh cấp tính gây nấm miệng, loét miệng hay lao phổi gây chảy máu. 

3. Quan hệ tình dục an toàn

Sử dụng bao cao su khi quan hệ

Sử dụng bao cao su khi quan hệ


Bạn hãy quan hệ tình dục an toàn:

  • Luôn sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục
  • Hạn chế quan hệ bằng đường hậu môn
  • Quan hệ chung thuỷ
  • Nếu bạn tình được chẩn đoán nhiễm HIV, hai bạn phải hết sức cẩn trọng khi quan hệ, cũng như thường xuyên xét nghiệm HIV
  • Sử dụng thuốc diệt tinh trùng và HIV dạng kem bôi, viên đặt, tẩm vào màng xốp, hoặc trên bao cao su. Dạng phổ biển nhất là Nonoxynol-9

4. Sử dụng thuốc kháng virus PrEP trước phơi nhiễm

Truvada là một thuốc PrEP thường dùng

Truvada là một thuốc PrEP thường dùng


Thuốc PrEP được khuyên dùng cho những người chưa nhiễm HIV nhưng có nguy cơ nhiễm HIV cao như:

  • Nam giới đồng tính, thường xuyên quan hệ qua đường hậu môn
  • Bác sĩ, y tá làm việc tại bệnh viện
  • Các đối tượng nguy cơ cao khác

PrEP có hai dạng là PrEP hàng ngàyPrEP theo tình huống. Thuốc có hiệu quả dự phòng nhiễm HIV tới 96-99% nếu bạn tuân thủ điều trị.

5. Xét nghiệm HIV

Nếu bạn có nguy cơ, hãy đi xét nghiệm HIV

Nếu bạn có nguy cơ, hãy đi xét nghiệm HIV


Nếu bạn đã làm các việc sau đây, bạn nên làm xét nghiệm HIV:

  • Quan hệ tình dục không an toàn với người không phải vợ/ chồng/ bạn tình lâu năm
  • Quan hệ tình dục không an toàn với người sử dụng ma tuý hoặc có quan hệ tình dục với nhiều người khác
  • Tiêm chích ma tuý
  • Sử dụng chung bơm kim tiêm với người khác
  • Có người nhà (vợ/ chồng/ con/ anh chị em) bị nhiễm hoặc phơi nhiễm HIV 
  • Phụ nữ mang thai
  • Tình cờ bị kim tiêm đâm phải ở trên đường, nơi công cộng, công viên

Đặc biệt với nhóm đối tượng dự phòng cuối cùng, bạn cần nhanh chóng đến cơ sở y tế trong vòng 72 giờ kể từ khi gặp nạn để đảm bảo hiệu quả xét nghiệm và điều trị dự phòng. Bạn sẽ cần uống thuốc kháng siêu vi (PEP) trong vòng 28 ngày để ngừa phơi nhiễm HIV. Sau đó, bạn cần quay lại tái xét nghiệm sau 3 tháng để xác nhận lại kết quả. 

Lời kết

HIV/AIDS đã từng bị coi là cái chết nhưng hiện nay, các can thiệp dự phòng và phương pháp điều trị đã giúp cải thiện đời sống bệnh nhân đáng kể. 
Với những thông tin trên, chiase24.com tin rằng bạn đã nắm được những thông tin cần biết về dấu hiệu, chẩn đoán, và điều trị bệnh HIV. Bạn nên chú ý cẩn thận mỗi ngày cũng như quan hệ tình dục an toàn để phòng ngừa bệnh HIV nhé. 
[spoiler title = “Tham Khảo” ]

  1. https://www.hiv.gov/hiv-basics/overview/about-hiv-and-aids/what-are-hiv-and-aids
  2. https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/hiv-aids/symptoms-causes/syc-20373524
  3. https://medlineplus.gov/hivaids.html
  4. https://www.plannedparenthood.org/learn/stds-hiv-safer-sex/hiv-aids

[/spoiler]

5/5 - (1 bình chọn)
Bộ sưu tập tranh tô màu con heo siêu cute, đáng yêu
GIẢI ĐÁP: Rong nho trị phì đại tuyến tiền liệt được không? Hiệu quả không?

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *